Các trường hợp không xử lý hình sự đối với tội dâm ô trẻ em

Gần đây,  tệ nạn về dâm ô ở xảy ra đối với trẻ em ở nước ta đang gia tăng đi cùng với sự phát triển của xã hội, du nhập văn hóa phương Tây, cùng với tốc độ phát triển Internet không ngừng, các trẻ vị thành niên được tiếp xúc phim ảnh, báo chí, Internet nhiều hơn trước. Hệ quả của việc tiếp xúc với văn hóa hội nhập không đúng, các tư tưởng cực đoan xuất hiện dẫn đến các hành vi nguy hại cho xã hội ngày càng gia tăng. Nhưng thực tế khi cha mẹ là người trực tiếp chăm sóc và có các hành vi được nêu trong luật và có phải là dâm ô với con mình hay không. Chính vì vậy cũng cũng có rất nhiều câu hỏi các trường hợp nào được loại trừ xử lý hình sự đối với tội phạm dâm ô trẻ em.

Căn cứ vào quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị quyết Số: 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và nội dung tại phiên họp trực tuyến hướng dẫn nghị quyết  Số: 06/2019/NQ-HĐTP  và các văn bản tài liệu có liên quan Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng xin cung cấp một số thông tin như sau:

Khái niệm dâm ô được nêu, đưa ra tại Điều 146 Bộ luật Hình sự 2015:

Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31% đến 60%

e) Tái phạm nguy him.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”


Theo hướng dẫn tại Nghị quyết Số: 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và nội dung tại phiên họp trực tuyến hướng dẫn nghị quyết  Số: 06/2019/NQ-HĐTP Không xử lý hình sự theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật Hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Người trực tiếp chăm sóc, giáo dục người dưới 10 tuổi, người bệnh, người tàn tật, có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của họ nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con dưới 10 tuổi; giáo viên mầm non tắm rửa, vệ sinh cho trẻ mầm non…);
  • Người làm công việc khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế; người cấp cứu, sơ cứu người bị nạn có hành vi tiếp xúc với bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác của người dưới 16 tuổi nhưng không có tính chất tình dục (ví dụ: bác sĩ khám, chữa bệnh cho bệnh nhân; sơ cứu, cấp cứu người bị tai nạn, người bị đuối nước…).

Trên đây là thông tin của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng cung cấp nhằm mục đích tuyên truyền và phổ biên pháp luật, để được hỗ trợ trực tiếp và câu trả lời cụ thể nhất cho trường hợp của bạn, vui lòng liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật Miễn Phí 1900636396 để được gặp trực tiếp luật sư.
Trân trọng!

Tải ngay >> Nghị quyết Số: 06/2019/NQ-HĐTP 

Tải ngay >>  Bộ luật Hình sự 2015

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.