Chồng ngoại tình, tôi có được giành quyền nuôi con

 

Tôi phát hiện chồng ngoại tình, còn mua nhà cho bồ nhí. Tôi muốn ly hôn nhưng hiện tại hoàn toàn phụ thuộc kinh tế vào chồng. Anh có vị trí cao trong một cơ quan lớn. Tôi mới nghỉ làm sau khi sinh con trai thứ hai được 1 năm. Con lớn năm nay đã được 8 tuổi.

Về tài sản, chúng tôi có 3 ngôi nhà, tuy nhiên đều đứng tên chồng. Tài sản này là tài sản trong lúc chúng tôi kết hôn tạo dựng mà có. Chồng tôi không mấy quan tâm tới con cái nhưng anh ấy là người chu cấp tài chính để các cháu được học trường tốt. Anh ấy có tính sở hữu cao và chắc chắn sẽ không chịu nhường cho tôi quyền nuôi con. Vậy cho tôi hỏi, trong trường hợp chúng tôi ly hôn thì tôi có được quyền nuôi con không? Việc chia tài sản sẽ như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình, khi vợ chồng mâu thuẫn đến không thể hàn gắn được muốn ly hôn, thì thông thường sẽ phải giải quyết 3 yếu tố sau: tình cảm, con cái và tài sản chung.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Việc chứng minh mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức phải ly hôn thuộc về đương sự (người có yêu cầu được ly hôn). Trường hợp vợ hoặc chồng ngoại tình, người kia có thể thu thập chứng cứ nhưng pháp luật không bắt buộc phải xuất trình được chứng cứ về sự ngoại tình đó.

Về vấn đề quyền nuôi con, theo quy định tại Khoản 2, 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”

Theo quy định trên, thì đối với người con trai thứ hai dưới 36 tháng thì sẽ trực tiếp giao cho bạn nuôi. Còn đối với người con đầu hiện tại đã trên 7 tuổi, vì thế tòa sẽ xem xét nguyện vọng của cháu muốn ở với bố hoặc mẹ để quyết định.

Về tài sản, theo quy định tại điều 33 về tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 40 của Luật này (phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân); tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Với quy định nói trên, nếu 3 ngôi nhà được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì là tài sản chung vợ chồng. Nếu chồng bạn cho rằng đó là tài sản riêng thì anh ấy phải chứng minh. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tại Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng:

“2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.”

Như vậy, đối với trường hợp chồng bạn ngoại tình, được tính là có lỗi trong quan hệ vợ chồng, Tòa án có thể xem xét vào yếu tố đó để chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Mọi thông tin cần tư vấn, bạn liên hệ luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ nhanh chóng, chính xác nhất.

Hotline: 1900636396

Đặt lịch tư vấn trực tiếp tại văn phòng

Tải ngay>> Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.