Trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng

Cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho Người tiêu dùng là hành vi của các thương nhân nhằm cung cấp đúng, đầy đủ và kịp thời các thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa/dịch vụ cung cấp cho Người tiêu dùng và những thông tin liên quan đến việc giao kết cũng như thực hiện hợp đồng.

Việc này nhằm khắc phục vị trí yếu thế của người tiêu dùng và tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa Người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh.

Trách nhiệm cung cấp thông tin dựa trên các căn cứ pháp lí sau đây:

Với các nội dung được quy định tại Điều 12 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010

1. Ghi nhãn hàng hoá (Khoản 1)

– Việc ghi nhãn hàng hóa được quy định chi tiết trong Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/04/2017

– Việc ghi nhãn hàng hóa có thể xem là một phần của nghĩa vụ thông tin tiền hợp đồng

– Căn cứ quy định của Nghị định 43 thì các thương nhân có trách nhiệm ghi nhãn đối với mọi loại hàng nguohóa do mình sản xuất, cung cấp, trừ một số trường hợp đặc biệt (Danh sách hàng hóa không thuộc phạm vi điều chỉnh được quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 43/2017/NĐ-CP)

– Thông tin bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa bao gồm: Tên hàng hóa; Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa và xuất xứ hàng hóa. Ngoài ra, trên nhãn còn phải có “Các nội dung khác theo tính chất của mỗi loại hàng hóa”. Các nội dung này được xác định theo Phụ lục I của Nghị định 43/2007/NĐ-CP và văn bản quy phạm pháp luật liên quan

– Khi cung cấp các hàng hóa, thương nhân cũng cần thực hiện theo các quy định đặc thù trong những văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, chủ yếu do yêu cầu riêng xuất phát từ đặc điểm của hàng hóa. Ví dụ: Đối với thực phẩm chức năng thì cần thêm thông tin cảnh báo “Thực phẩm này không phải là thuốc”…

– Ý nghĩa của việc ghi nhãn hàng hóa là thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hóa để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng

2. Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ (Khoản 2)

– Có cả hệ thống văn bản điều chỉnh vấn đề giá nói chung và niêm yết giá nói riêng, đó là Luật Giá 2012 và các văn bản hướng dẫn:

+ Các khái niệm cơ bản có liên quan, trong đó có khái niệm về “niêm yết giá” (Khoản 5 Điều 4 Luật Giá 2012): “Niêm yết giá là việc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thông báo công khai bằng các hình thức thích hợp, rõ ràng và không gây nhầm lẫn cho khách hàng về mức giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam bằng cách in, dán, ghi giá trên bảng, trên giấy hoặc trên bao bì của hàng hóa hoặc bằng hình thức khác tại nơi giao dịch hoặc nơi chào bán hàng hóa, dịch vụ để thuận tiện cho việc quan sát, nhận biết của khách hàng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

+ Luật Giá 2012 đã coi niêm yết giá là một nghĩa vụ của thương nhân và quy định rõ việc niêm yết giá liên quan đến cả hai nhóm hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá và Nhà nước không định giá

+ Luật Giá 2012 yêu cầu các thương nhân phải công khai thông tin về giá và quy định rõ hình thức không khai chính là niêm yết giá

– Việc niêm yết giá cũng là một phần của nghĩa vụ thông tin tiền hợp đồng

3. Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa. (Khoản 3)

– Được quy định trong Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/04/2017 về nhãn hàng hóa và một số văn bản dưới luật khác.

– Đây là nghĩa vụ tiền hợp đồng: quyền tự do lựa chọn giao kết hợp đồng của người tiêu dùng sẽ được thực hiện hiệu quả hơn khi họ nắm được thông tin cảnh báo về loại hàng hóa, dịch vụ mà họ muốn mua hay sử dụng. Tuy nhiên, ngay cả sau khi hợp đồng đã hoàn thành, nếu doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát hiện khuyết tật của hàng hóa hay những tác động không tốt của dịch vụ đối với người tiêu dùng thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thông tin cảnh báo.

– Nghĩa vụ thông tin cảnh báo này phải được ghi nhận trên nhãn hàng hóa, trong các tài liệu hướng dẫn sử dụng đi kèm với sản phẩm hoặc trong chính hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo

– Nghĩa vụ này có tác dụng phòng ngừa tác động xấu của hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng

4. Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa (Khoản 4) và Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành (Khoản 5)

– Nghĩa vụ thông tin ở nhóm này được thực hiện chủ yếu trước khi hợp đồng được giao kết, nhưng vẫn phải tiếp tục được thực hiện cả sau khi hợp đồng đã được giao kết

– Nghĩa vụ cung cấp hướng dẫn, sử dụng được thực hiện trước khi giao kết hợp đồng (ví dụ ghi trên nhãn hàng hóa, bao bì sản phẩm, tài liệu hướng dẫn sử dụng sản phẩm), trong và cả sau khi hợp đồng được giao kết (theo quy định ở Điều 443 BLDS 2015). Nghĩa vụ thông tin về điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành được thực hiện theo quy định tại Điều 21 Luật BVQLNTD 2010

5. Thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch (Khoản 6)

– Điều này cũng được quy định ở Điều 405 và Điều 406 BLDS 2015

– Trách nhiệm này có thể được thực hiện tại trụ sở doanh nghiệp hay trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp hoặc bằng tài liệu gửi cho người tiêu dùng. Ngoài ra, đối với 10 loại hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung bắt buộc phải đăng ký do có đối tượng thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu (như điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, vận chuyển bằng đường hàng không…) thì doanh nghiệp còn thực hiện nghĩa vụ đăng ký tại Bộ Công Thương hoặc Sở Công Thương (xem Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Quyết định số 02/2012/QĐ-TTG, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg và Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg). Để nắm được thông tin về nội dung hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung, người tiêu dùng phải được quyền đọc trước các tài liệu này.

Với quy định về trách nhiệm của bên thứ ba quy định tại Điều 13 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010

– Trong pháp luật bảo vệ NTD, khái niệm “bên thứ ba” trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD được quy định tại Khoản 12 Điều 3 Nghị định 98/2020. Theo đó, “bên thứ ba” trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD được xác định bao gồm các tổ chức cá nhân trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và truyền tải thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến NTD

– “Bên thứ ba” được xác định là một bên phải chịu trách nhiệm (trực tiếp và liên đới) liên quan đến việc cung cấp thông tin cho NTD dù thực tế bên thứ ba thường là bên tham gia theo yêu cầu của thương nhân trực tiếp cung cấp thông tin.

– Luật BVQLNTD 2010 đã đặt ra trách nhiệm “đặc thù” của bên thứ ba đối với chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông. Về bản chất, hai chủ thể này cũng là “bên thứ ba”, tuy nhiên, do vai trò “trung gian” quan trọng, nên nhóm chủ thể này được xếp vào nhóm “bên thứ ba đặc thù” khi có bổ sung thêm một số trách nhiệm (Khoản 2 Điều 13) nhằm tác động, kiểm soát nền tảng thực hiện các hoạt động cung cấp thông tin.

Việc thực hiện của các cá nhân, tổ chức kinh doanh hiện nay

Nếu một vài năm trước, vấn đề nhức nhối trong việc cung cấp thông tin cho NTD là lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình, trên báo viết với những vụ việc liên quan đến vòng titan, đồng hồ, chổi lau nhà, đồ gia dụng, thực phẩm, thực phẩm chức năng… Thì trong những năm gần đây, lĩnh vực được quan tâm chính là việc cung cấp thông tin trong các giao dịch thương mại điện tử.

Cùng với sự phát triển của toàn cầu hóa, mạng internet, thiết bị di động và gần đây lại thêm yếu tố dịch bệnh Covid-19 bùng phát, thương mại điện tử đang trở thành xu hướng tiêu dùng được lựa chọn rộng rãi do sự thuận tiện và nhanh chóng. Tuy nhiên, do yếu tố “trực tuyến” của thương mại điện tử nên NTD hoàn toàn không có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với hàng hóa, dịch vụ và thương nhân.

Mọi quyết định của NTD khi đó phần lớn dựa vào các thông tin do các thương nhân (bao gồm cả chủ sàn, chủ shop, người vận chuyển, trung gian thanh toán,…) cung cấp. Trong các giao dịch truyền thống, NTD vốn đã “yếu thế” hơn các thương nhân. Trong các giao dịch thương mại điện tử, thế mạnh của các tổ chức, cá nhân lại càng tăng lên với các lợi thế về tài chính, nhân sự, kiến thức về công nghệ, thông tin về sản phẩm,… Tuy nhiên, có một thực tế là khi thực hiện giao dịch thương mại điện tử, rất nhiều NTD đã không được cung cấp thông tin đầy đủ, thậm chí là bị lừa dối, lừa đảo.

Điều này đặt ra yêu cầu bức thiết trong việc cải cách pháp luật, hoàn thiện cả quy định và cơ chế thực thi liên quan đến trách nhiệm của thương nhân trong việc cung cấp thông tin cho NTD để họ có được những thông tin cơ bản nhất về hàng hoá dịch vụ từ đó có thể đưa ra một quyết định, một lựa chọn đúng đắn khi đang cân nhắc mua hoặc sử dụng hàng hoá, dịch vụ nào đó.

Cơ bản về Thuế giá trị gia tăng

Khái niệm cơ bản về Thuế

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.