Bàn về xác minh, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

Xác minh, thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ án để nghiên cứu và đánh giá giúp cho việc giải quyết vụ án được chính xác.

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 97, Điều 106 BLTTDS năm 2015 thì đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cùng cấp tài liệu, chứng cứ. Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ để cung cấp cho Tòa án và có yêu cầu thì Tòa án có thể áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật quy định để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án dân sự được đúng đắn.

Việc thu thập chứng cứ của Tòa án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 và được quy định cụ thể từ Điều 98 đến Điều 106 BLTTDS năm 2015 như: Lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng; lấy lời khai của người làm chứng theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết; đối chất theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng; xem xét, thẩm định tại chỗ; trưng cầu giám định, định giá tài sản; ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này. Quy định như vậy nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự được bảo vệ tối đa, giúp đương sự tránh được những bất lợi khi họ không thể cung cấp được chứng cứ bởi có những tài liệu không do đương sự nắm giữ mà do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác lưu giữ, quản lý mà đương sự khó có thể thu thập được.

BLTTDS năm 2015 đã đưa ra căn cứ pháp lý để Tòa án yêu cầu đương sự nộp tạm ứng và thanh toán chi phí tố tụng như chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản… nhằm tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ. Nhưng trên thực tế các Tòa án áp dụng không thống nhất vấn đề này. Cụ thể là Điều 169 BLTTDS năm 2015 quy định: “Căn cứ vào quy định của Bộ luật này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí giám định, định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch; chi phí tố tụng khác do luật khác quy định và việc miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án”. Tuy nhiên, cho đến nay chỉ có Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án trong vụ án hình sự, dân sự, hành chính và một số loại lệ phí khác chứ chưa có quy định cụ thể về các chi phí tố tụng khác như chi phí định giá tài sản, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ…

Việc quy định rõ chi phí tố tụng gồm những loại chi phí nào, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, phương thức nộp, chứng từ kèm theo là cần thiết để quy định này có thể được áp dụng một cách khả thi trong thực tiễn.

Trên đây là thông tin của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng cung cấp, để có được câu trả lời cụ thể nhất cho trường hợp của bạn, vui lòng liên hệ 1900636396 cung cấp thêm các thông tin cần thiết để được hỗ trợ trực tiếp.

Trân trọng!

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.