Chủ xe cũ chưa sang tên đổi chủ có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại?

Hỏi: Bố tôi đã bán chiếc xe máy vào năm 2009, nhưng chủ mua không làm giấy sang tên, chiếc xe này đã gây tai nạn người điều khiển xe bỏ trốn, vậy bố tôi có phải chịu trách nhiệm không ? Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Về vấn đề trách nhiệm của chủ xe khi phương tiện gây tai nạn thì tùy vào mức độ thiệt hại mà người chủ xe sẽ phải chịu các mức bồi thường, các chế tài về xử lý vi phạm khi tham gia giao thông. Tuy nhiên trong trường hợp của bạn, người điều khiển xe gây tai nạn lại là người chủ sau của chiếc xe, nhưng chiếc xe ấy lại chưa được sang tên hay đăng kí lại. Theo quy định tại pháp luật dân sự thì xe máy được coi là động sản nhưng phải đăng ký quyền sở hữu nên theo tại điểm g, khoản 1, điều 10 của Thông tư 15/2014/TT-BCA – đã được Bộ Tư Pháp sửa đổi bổ sung bằng Công Văn 3956/BTP-HTQTCT thì hợp đồng chuyển nhượng xe máy buộc phải có công chứng hoặc chứng thực.

Ngày 30/7/2010, Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 20/2010/TT-BGTVT quy định về cấp, đổi, thu hồi đăng ký, biển số xe máy chuyên dùng có tham gia giao thông đường bộ. Theo đó, tại điểm b khoản 1 Điều 6 quy định: “Giấy bán, cho, tặng theo mẫu quy định tại Phụ lục 3 của Thông tư này (bản chính hoặc bản sao có chứng thực)”; trên mẫu Giấy bán, cho, tặng xe chuyên dùng ban hành kèm theo Thông tư này có quy định việc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bán, cho, tặng xe đăng ký thường trú chứng thực chữ ký của người bán, cho, tặng xe.

Ngày 04/4/2014, Bộ Công an ban hành Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe. Theo đó, tại điểm g khoản 1 Điều 10 quy định: “Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực”.
Để bảo đảm thực hiện đúng các quy định tại Thông tư số 20/2010/TT-BGTVT và Thông tư số 15/2014/TT-BCA nêu trên, nhằm bảo đảm thuận lợi cho người dân, Bộ Tư pháp đề nghị Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức hành nghề công chứng và Ủy ban nhân dân cấp xã như sau:
– Đối với Giấy bán, cho, tặng xe chuyên dùng thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người bán, cho, tặng xe thực hiện chứng thực chữ ký của người bán, cho, tặng xe.
– Đối với Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân thì người dân có quyền lựa chọn công chứng Giấy bán, cho, tặng xe tại các tổ chức hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực chữ ký trên Giấy bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực; nếu người dân lựa chọn chứng thực chữ ký trên Giấy bán, cho, tặng xe cá nhân thì thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện như chứng thực chữ ký trên Giấy bán, cho, tặng xe chuyên dùng nêu trên.

Bạn có nói là chủ mua không làm giấy tờ sang tên, nhưng không rõ là giữa bố bạn và người bán xe đã có viết giấy chuyển nhượng xe được công chứng chứng thực hay chưa, vì vậy có 2 trường hợp có thể xảy ra

+ Một là có giấy chuyển nhượng có công chứng, chứng thực giữa bố bạn và người mua xe, thì hợp đồng chuyển nhượng này có giá trị pháp lý và mặc dù giấy tờ xe vẫn đứng tên bố của bạn nhưng bố bạn vẫn không phải chịu trách nhiệm bồi thường với bên bị thiệt hại khi chiếc xe này đã gây tai nạn.

+ Hai là không có giấy chuyển nhượng giữa bố bạn và người mua xe. Đối với trường hợp này thì những giao dịch này là giao dịch không có giá trị pháp lý. Bên cạnh đó, trên giấy tờ bố bạn là người đứng tên do đó bố bạn sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới trong vụ việc tại nạn này. Theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại tùy theo mức độ gây thiệt hại của vụ tai nạn này.

Theo khoản 1 điều 601 của Bộ Luật Dân sự 2015 “1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

Do đó theo quy định tại khoản 2 điều 601 Bộ Luật Dân sự 2015: “2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Như vậy xét trên góc độ pháp lý thì bố của bạn vẫn phải bồi thường do tai nạn gây ra. Sau đó bố bạn có thể yêu cầu người điều khiển xe bồi thường lại cho mình.

Trên đây là tư vấn của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng, mọi thắc mắc bạn vui lòng liên hệ tổng đài luật sư  1900636396 để được tư vấn trực tiếp.

Tải ngay >> Bộ luật Dân sự 2015

Tải ngày >> Thông tư 15/2014/TT-BCA

 

 

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.