Điều 368. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội

BLHS 2015

Điều 368. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội

1. Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Đối với 02 người đến 05 người;

c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

đ) Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Đối với 06 người trở lên;

b) Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan tự sát.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

BLHS 1999

Điều 293. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội

1.  Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ một năm đến  năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ  ba năm đến mười năm:

a) Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng;

b ) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điểm mới của BLHS 2015 so với BLHS 1999 về tội danh này

Tăng hình phạt tù ở Khoản 2 điều này từ 03 đến 10 năm lên 05 đến 10 năm. Điều luật đã thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 2 còn từ 05 năm đến 10 năm (trước đây là từ 03 năm đến 10 năm), khoản 3 còn từ 10 năm đến 15 năm (trước đây là từ 07 năm đến 15 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh việc lạm dụng của cơ quan tư pháp.

Cụ thể hóa tình tiết tăng nặng định tính “Gây hậu quả nghiêm trọng”, BLHS 2015 đã nêu rõ các trường hợp bị liệt vào Khoản 2 Điều 368.

Tương tự ở Khoản 3, thay “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng các tình tiết cụ thể: Đối với 06 người trở lên; Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; Làm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan tự sát.

Thay đổi này giúp minh bạch trong quá trình xét xử, giúp việc định tội rất rõ ràng và chính xác, tránh sự phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan xét xử. Với việc nêu rõ các tình tiết tăng nặng vào cấu thành tội phạm cũng làm cho quá trình xét xử được thống nhất chung trong cả nước, tránh việc cùng một tình tiết vụ việc như nhau nhưng được các thẩm phán khác nhau đánh giá khác nhau, người đánh giá là nghiêm trọng rơi vào Khoản 2, người khác lại đánh giá là rất nghiêm trọng rơi vào khoản 3.

Mọi thông tin cần tư vấn, bạn liên hệ luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ nhanh chóng, chính xác nhất.

Hotline: 1900636396

Đặt lịch tư vấn trực tiếp tại văn phòng

Tải ngay>> Bộ luật Hình sự năm 2015

 

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.