Điều 369. Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

Điều 369. Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Không truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng;

b) Đối với 02 người đến 05 người;

c) Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bỏ trốn hoặc thực hiện hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

d) Dẫn đến việc người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trả thù người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị hại, nhân chứng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Đối với 05 người trở lên;

b) Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

c) Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

d) Làm người bị hại tự sát.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

Điều 294. Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội

1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a)  Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điểm mới của BLHS 2015 so với BLHS 1999 về tội danh này

Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 3 của Điều luật xuống còn từ 07 năm đến 12 năm (trước đây là từ 05 năm đến 12 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh việc lạm dụng của cơ quan tư pháp.

Cụ thể hóa các tình tiết tăng nặng định tính như:  “gây hậu quả nghiêm trọng”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” thành các tình tiết cụ thể như: cụ thể số lượng người không truy cứu, các tình tiết gây ảnh hưởng đến quá trình điều tra, xét xử, làm người bị hại tự sát,…

Thay đổi này giúp minh bạch trong quá trình xét xử, giúp việc định tội rất rõ ràng và chính xác, tránh sự phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan xét xử. Với việc nêu rõ các tình tiết tăng nặng vào cấu thành tội phạm cũng làm cho quá trình xét xử được thống nhất chung trong cả nước, tránh việc cùng một tình tiết vụ việc như nhau nhưng được các thẩm phán khác nhau đánh giá khác nhau, người cho là nghiêm trọng người cho là rất nghiêm trọng. Từ đó đảm bảo sự công bằng trong xét xử.

Mọi thông tin cần tư vấn, bạn liên hệ luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ nhanh chóng, chính xác nhất.

Hotline: 1900636396

Đặt lịch tư vấn trực tiếp tại văn phòng

Tải ngay>> Bộ luật Hình sự năm 2015

 

 

 

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.