Điều 370. Tội ra bản án trái pháp luật

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

Điều 370. Tội ra bản án trái pháp luật

1. Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

c) Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng;

đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện từ 11% đến 45%;

e) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Kết án oan người vô tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

b) Bỏ lọt tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện 46% trở lên;

d) Dẫn đến bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện tự sát;

đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

Điều 295. Tội ra bản án trái pháp luật

1. Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điểm mới của BLHS 2015 so với BLHS 1999 về tội danh này:

Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 2 của Điều luật xuống còn từ 05 năm đến 10 năm, Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 3 của Điều luật xuống còn từ 10 năm đến 15 năm để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh việc lạm dụng của cơ quan tư pháp.

Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 “Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu”.

Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” , “gây hậu rất quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng các tình tiết cụ thể trong luật như: số lần ra bản án trái pháp luật; đối tượng của bản án là: phụ nữ mà biết có thai, người già, người chưa 18 tuổi; gây thiệt hại có giá trị bao nhiêu; Dẫn đến bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện tự sát, … Thay đổi này giúp minh bạch trong quá trình xét xử, giúp việc định tội rất rõ ràng và chính xác, tránh sự phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan xét xử. Với việc nêu rõ các tình tiết tăng nặng vào cấu thành tội phạm cũng làm cho quá trình xét xử được thống nhất chung trong cả nước, tránh việc cùng một tình tiết vụ việc như nhau nhưng được các thẩm phán khác nhau đánh giá khác nhau.

Mọi thông tin cần tư vấn, bạn liên hệ luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ nhanh chóng, chính xác nhất.

Hotline: 1900636396

Đặt lịch tư vấn trực tiếp tại văn phòng

Tải ngay>> Bộ luật Hình sự năm 2015

 

 

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.