Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Trên thực tế, giao dịch dân sự xảy ra thường xuyên, có thể bằng các hình thức khác nhau như bằng văn bản, bằng miệng hoặc bằng hành vi. Tuy nhiên, không phải bất cứ giao dịch dân sự nào được xác lập cũng đảm bảo việc có hiệu lực theo pháp luật. Việc xác định hiệu lực của giao dịch dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng khi có tranh chấp xảy ra. Vì vậy, pháp luật quy định các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015:
“Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
Cụ thể:
Một là, người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự
Thuật ngữ “người” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác.
Cá nhân: giao dịch dân sự do cá nhân xác lập chỉ có hiệu lực pháp luật nếu phù hợp với mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân.
+ Người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Trừ các trường hợp bị tòa án tuyên bố mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được toàn quyền xác lập mọi giao dịch dân sự. Lúc này, họ hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
+ Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
+ Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
+ Người chưa đủ 6 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự không được phép thực hiện các giao dịch dân sự. Mọi giao dịch dân sự của những người này đều do người đại diện, người giám hộ thực hiện.

Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác: Các chủ thể này khi tham gia vào giao dịch dân sự đều thông qua người đại diện (theo pháp luật hoặc theo ủy quyền). Người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh người được đại diện. Các quyền và nghĩa vụ do người đại diện xác lập làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Tuy nhiên, pháp nhân chỉ tham gia vào các giao dịch dân sự phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân. Người đại diện xác lập giao dịch dân sự làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trong phạm vi nhiệm vụ của chủ thể đó được điều lệ hoặc pháp luật quy định.
Hai là, mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội
Mục đích giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập nó. Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận trong giao dịch. Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Các chủ thể khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự luôn mong muốn đạt được mục đích nhất định. Muốn đạt được những mục đích đó họ phải cam kết, thỏa thuận về nội dung và ngược lại, những thỏa thuận đó hướng tới việc đạt được mục đích.
Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch không trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Những giao dịch xác lập nhằm trốn tránh pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những giao dịch có mục đích và nội dung không hợp pháp, không làm phát sinh hiệu lực của giao dịch dân sự đó.
Ba là, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của các bên. Do vậy, tự nguyện là tự do ý chí và bày tỏ ý chí trong một quan hệ dân sự.Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một trong các nguyên tắc được quy định trong Bộ luật dân sự.
Bốn là, hình thức của giao dịch phải phù hợp với quy định của pháp luật
Giao dịch dân sự có thể thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Người xác lập giao dịch có quyền lựa chọn hình thức cho giao dịch đó. Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo quy định đó. Chẳng hạn như hợp đồng mua bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất.
Tóm lại, Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự vô cùng quan trọng và giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên (tuân thủ về mặt hình thức nếu pháp luật có quy định). Nếu thiếu 1 trong các điều kiện trên, giao dịch dân sự có thể thuộc các trường hợp bị vô hiệu theo pháp luật như: vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; vô hiệu do giả tạo; vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thực hiện; …
Trên đây là nội dung tư vấn pháp luật của Văn Phòng Luật Sư Bùi Đình Ứng, hy vọng với những nội dung này sẽ giúp bạn giải đáp được những thắc mắc của mình. Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ 1900636396 để được luật sư tư vấn trực tiếp.
Trân trọng./.
Tải ngay: Bộ Luật Dân Sự 2015

 

 

 

 

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.