Độ tuổi nào chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự 2015 ?

Theo quy định pháp luật, người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi họ đã đến độ tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sự. Và pháp luật cũng quy định trách nhiệm hình sự phải chịu đối với các nhóm độ tuổi là khác nhau. Thông qua bài viết này, VPLS Bùi Đình Ứng sẽ tìm hiểu quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo BLHS 2015:

Theo quy định tại Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (gọi tắt là BLHS 2015), trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu là khác nhau ở hai nhóm độ tuổi sau đây:

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên:

BLHS 2015 quy định “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.” (Khoản 1 Điều 12)

=> Đối chiếu với quy định của BLHS 1999: BLHS 1999 chỉ quy định “người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” mà không có quy định loại trừ một số tội phạm mà đối tượng này không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Giải thích về điểm mới này, tại phần các tội phạm của BLHS 2015 có một số tội mà người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ:
Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Điều 145 BLHS 2015 (Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.);

Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi Điều 146 BLHS 2015 (Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…);

Do vậy, Khoản 1 của Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung “trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”. Việc quy định bổ sung nêu trên là phù hợp theo tinh thần của pháp luật.

Ảnh minh họa

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

(1) BLHS 2015 quy định “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”

Về tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, BLHS 2015 quy định như sau:

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS 2015 quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù (điểm c Khoản 1 Điều 9 BLHS 2015).

Ví dụ: “Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

  1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
  2. a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;
  3. b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.”

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS 2015 quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (điểm c Khoản 1 Điều 9 BLHS 2015).

Ví dụ: ” Điều 123. Tội giết người

  1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
  2. a) Giết 02 người trở lên;
  3. b) Giết người dưới 16 tuổi;
  4. c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

…”

=> Đối chiếu với quy định của BLHS 1999: Xuất phát từ thực tiễn xét xử và quá trình trẻ hóa tội phạm ngày càng nhiều trong suốt thời gian qua mà quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự hiện nay có thay đổi rõ nét so với quy định trong BLHS 2019. Nếu trước đây: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” – Điều 12 BLHS 1999, thì hiện nay theo BLHS 2015, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của nhóm đối tượng này đã được mở rộng, theo đó:

Khi thực hiện hành vi phạm tội thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cho dù với lỗi cố ý hay vô ý thì người phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên trách nhiệm này được giới hạn trong những tội phạm nhất định. Cụ thể các tội tại: Điều 123 (Tội giết người), Điều 134 (Tội có ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), Điều 141 (Tội hiếp dâm), Điều 142 (Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi), Điều 143 (Tội cưỡng dâm), Điều 144 (Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi), Điều 150 (Tội mua bán người), Điều 151 (Tội mua bán người dưới 16 tuổi), Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), Điều 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản), Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), Điều 178 (Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản), Điều 248 (Tội sản xuất trái phép chất ma túy), Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 250 (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy), Điều 251 (Tội mua bán trái phép chất ma túy), Điều 252 (Tội chiếm đoạt chất ma túy), Điều 265 (Tội tổ chức đua xe trái phép), Điều 266 (Tội đua xe trái phép), Điều 286 (Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử), Điều 287 (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử), Điều 289 (Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác), Điều 290 (Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản), Điều 299 (Tội khủng bố), Điều 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia), Điều 304 (Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quận sự) BLHS 2015.

Ngoài các tội phạm được liệt kê nêu trên thì nhóm đối tượng này khi thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đối với các loại tội phạm khác thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Kết luận: Như vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự được khái quát như sau:

– Từ đủ 16 tuổi trở lên: chịu trách nhiệm hình sự mọi loại tội phạm, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

– Từ đủ 14 tuổi đến dưới16 tuổi:

+ Tội ít nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự.

+ Tội nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự.

+ Tội rất nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được quy định.

+ Tội đặc biệt nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được quy định.

Việc phân loại và giới hạn tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu trên phần nào đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần ngăn chặn, răn đe tội phạm vị thành niên. Nhìn lại khoảng thời gian gần đây, chúng ta không khỏi rùng mình trước các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây xôn xao dư luận, người phạm tội còn tuổi đời rất trẻ nhưng lại thực hiện hành vi với tính chất côn đồ, tàn bạo thể hiện sự xem thường pháp luật, bất chấp mọi khuôn khổ, chuẩn mực để xâm phạm các mối quan hệ xã hội. Trong một môi trường với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, du nhập văn hóa, đề cao lối sống hưởng thụ, thích thể hiện… đã dẫn đến việc xuống cấp đạo đức nghiêm trọng trong bộ phận giới trẻ và từ đó dẫn đến hành vi phạm tội là điều tất yếu.

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.