Hiểu đúng quy định của pháp luật về giấy tờ có giá

Điều 105 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Điều 105. Tài sản Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”. Khi đọc được quy định này thì nhiều người không hiểu giấy tờ có giá là gì hoặc hiểu sai bản chất, cho rằng giấy tờ có giá ở đây là các loại giấy tờ như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy đăng ký xe máy, xe ô tô,… Việc hiểu sai hoặc hiểu chưa đúng bản chất có thể sẽ gây ảnh hưởng đến các giao dịch dân sự. Vậy giấy tờ có giá theo đúng quy định của pháp luật là những giấy tờ nào?

Vấn đề này sẽ được làm sáng tỏ thông qua bài phân tích sau của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng.

Điểm 8 Điều 6 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”. Như vậy có thể thấy, nếu cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ có giá thì cần trả lời một số câu hỏi như:

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có xác nhận nghĩa vụ trả nợ không?

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đi kèm với điều kiện trả lãi không?

Thực chất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ xác lập quyền sử dụng của cá nhân đối với mảnh đất đó mà thôi và không hề phát sinh nghĩa vụ trả nợ đối với bất cứ tổ chức nào hay đi cùng với đó là điều kiện trả lãi. Vậy giấy tờ có giá là những loại giấy tờ nào?

Theo hướng dẫn tại Công văn 141/TANDTC-KHXX năm 2011 của Tòa án nhân dân tối cao thì giấy tờ có giá được liệt kê bao gồm các loại giấy tờ:

a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;

b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;

c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của Luật quản lý nợ công năm 2009;

d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);

đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát hành trái phiếu doanh nghiệp”…

Trên đây là thông tin của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng cung cấp, để có được thêm nhiều thông tin, vui lòng liên hệ 1900636396 cung cấp thêm các thông tin cần thiết để được hỗ trợ trực tiếp.

Tải ngay >> Bộ luật dân sự năm 2015

Tải ngay >> Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010

 

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.