Những điểm mới về xóa án tích đối với người phạm tội

Một là, BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định các trường hợp không có án tích, đó là: Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích (khoản 2 Điều 69); người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (khoản 1 Điều 107); người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý (khoản 1 Điều 107); người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương XII của BLHS (khoản 1 Điều 107). Như vậy, theo quy định BLHS năm 2015 thì có 04 trường hợp người phạm tội được coi là không có án tích. So sánh với BLHS năm 1999 thì không có điều luật nào quy định các trường hợp không có án tích mà chỉ có quy định trường hợp người bị kết án được miễn hình phạt thì đương nhiên được xóa án tích (khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999). Trong khi đó, người bị kết án “không có án tích” và “đương nhiên được xóa án tích” là hai trường hợp có hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau. Trường hợp “không có án tích” là trường hợp người phạm tội sau khi chấp hành xong bản án thì cũng xem như đã chấp hành xong trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội đã thực hiện. Còn trường hợp “đương nhiên được xóa án tích” thì bản chất người phạm tội vẫn có án tích nhưng thuộc các trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo luật định. Do đó, quy định của BLHS năm 2015 đã mở rộng hơn các trường hợp người bị kết án mà không có án tích là rất có lợi cho người bị kết án, phù hợp nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, tạo điều kiện cho người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng.

Riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì BLHS năm 2015 chỉ ghi nhận 01 trường hợp duy nhất bị xem là có án tích, đó là: người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 107 BLHS). Như vậy, khi người dưới 18 tuổi phạm tội không thuộc trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 107 BLHS năm 2015 thì đương nhiên được xem là không có án tích. Quy định của BLHS năm 2015 là rất có lợi cho người phạm tội so với những quy định của BLHS năm 1999.

Hai là, về thời hạn xóa án tích. So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 quy định về thời hạn xóa án tích trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích (Điều 70 BLHS) và xóa án tích theo quyết định của Tòa án (Điều 71 BLHS) theo hướng rút ngắn thời hạn xóa án tích, có lợi hơn cho người phạm tội. Cụ thể là: tại khoản 3 Điều 70 BLHS năm 2015 quy định về thời hạn đương nhiên được xóa án tích là 01 năm trong trường hợp phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo; 02 năm trong trường hợp hình phạt tù đến 05 năm; 03 năm trong trường hợp hình phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 05 năm trong trường hợp hình phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng được giảm án. Trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án tại khoản 2 Điều 71 BLHS năm 2015: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Như vậy, để xác định thời hạn xóa án tích thì theo quy định của BLHS năm 2015 phải căn cứ hình phạt chính mà Tòa án đã tuyên.

Quy định này của BLHS năm 2015 chỉ được xác định rõ trong trường hợp chỉ có một hành vi phạm tội, khi đó dựa vào hình phạt chính của tội này để xác định thời hạn xóa án tích tương ứng theo quy định. Tuy nhiên, trong trường hợp, người phạm tội phạm nhiều tội hoặc trường hợp người phạm tội có nhiều bản án lại thì khi tuyên án Tòa án phải tiến hành tổng hợp bản án theo quy định. Khi đó, thời hạn xóa án tích trong trường hợp này phải căn cứ vào hình phạt chính của từng tội hay là căn cứ vào hình phạt chính sau khi tổng hợp của nhiều tội hoặc nhiều bản án. Điều này chưa được quy định trong BLHS năm 2015, dẫn đến hậu quả thực tiễn tính thời hạn xóa án tích áp dụng cho người phạm tội sẽ không thống nhất và đồng bộ.

Ba là, về thời điểm để bắt đầu tính thời hạn xóa án tích. Theo BLHS năm 1999 thì thời điểm bắt đầu tính thời hạn xoá án tích là kể từ khi người phạm tội chấp hành xong bản án còn theo BLHS năm 2015 thì thời điểm xoá án tích được tính kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách của án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và người phạm tội phải đáp ứng các điều kiện kèm theo, cụ thể là: tại khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015 quy định: “Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây…”. Điều này có nghĩa là, thời điểm để tính thời hạn xóa án tích kể từ khi người phạm tội chấp hành xong hình phạt chính và người phạm tội chỉ được xóa án tích khi đáp ứng điều kiện kèm theo đó là: chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn nêu trên. Như vậy, so với BLHS năm 1999 thì để bắt đầu tính thời hạn xóa án tích thì người phạm tội phải chấp hành xong bản án (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí,…), trong khi đó, BLHS năm 2015 quy định thời điểm tính xóa án tích cho người phạm tội kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, còn hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án chỉ là điều kiện đi kèm theo buộc người phạm tội thực hiện để được xóa án tích. Đây là một quy định có lợi hơn cho người phạm tội, một điểm mới nổi bật của BLHS năm 2015 về xóa án tích.

Bốn là, BLHS năm 2015 đã thay đổi thủ tục xóa án tích theo hướng thuận lợi hơn cho người bị kết án thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích. Cụ thể là, tại khoản 4 Điều 70 BLHS 2015 quy định thì Toà án sẽ không cấp giấy chứng nhận xoá án tích trong trường hợp đương nhiên được xoá án tích mà cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích.

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.