Phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày càng có vai trò quan trọng đối với việc duy trì trật tự xã hội cũng như bảo đảm lẽ công bằng mà các hệ thống pháp luật đều hướng tới. Xã hội phát triển kéo theo những tranh chấp về quyền và lợi ích nói chung, tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng xảy ra ngày càng nhiều, tính chất các vụ việc ngày càng phức tạp, mà những quy định cụ thể không thể giải quyết được trọn vẹn những vụ việc phát sinh trên thực tế. Qua nghiên cứu và tìm hiểu các văn bản pháp luật các công trình nghiên cứu của các học giả Văn phòng luật sư Bùi Đình Ứng nêu một số khái niệm phân tích cơ bản về trường hợp này. Nhằm giúp giải quyết sáng tỏ điều chưa rõ  trong điều luật từ đó đẩy mạnh việc thực thi pháp luật của mọi người trong thực tiễn.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015.

Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

  1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
  2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
  3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

 

Điều luật này hướng tới ba vấn đề như sau:

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra (khoản 1).

Theo quy định tại khoản 1 Điều này, chỉ cần có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã có thể phát sinh, bất kể hành vi đó là trái pháp luật hay không trái pháp luật. Mặc dù vậy, căn cứ trên quan điểm lập pháp trong các văn bản pháp luật trước đó, có thể nhận thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện cơ bản như: có thiệt hại xảy ra; có hành vi gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra: có lỗi của người thực hiện hành vi gây thiệt hại. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng cần phải có đầy đủ 4 điều kiện này thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới phát sinh, mà có những trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh ngay cả khi không có yếu tố lỗi (ví dụ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường).

Tại khoản 2 điều này loại trừ 2 trường hợp thiệt hại phát sinh nhưng do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì bên người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra (khoản 3) phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây Đây là lần đầu tiên, căn cứ phát sinh với trách nhiệm bồi thường thiệt do hành vi gây ra. Theo ra được tách biệt rạch ròi với tracn quy định tại khoản 3 Điều này, khi tài sản gây thiệt hại mà không điều này, khi tài sản gây thiệt hại mà không thuộc các trường hợp loại trừ thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể xảy ra trên thực tế, khi giải quyết cơ quan có thẩm quyền cũng phải xác định các điều kiện vấn đề bồi thường thiệt hại, cụ thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như: có thiệt hại thực tế về tài sản gây của hành vi gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của tài sản và thiệt hại xảy ra. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, không nên coi lỗi là một trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm, bởi vì về mặt lý luận, lỗi chỉ gắn với hành vi có ý thức của con người hoạt động của tài sản không phải là hành. vị có ý thức. Nhưng điều này cũng không thể khẳng định khi tài sản gây thiệt hại chủ sở hữu, người chiếm hữu không có lỗi, những lỗi của họ (nếu có) chỉ là lỗi trong việc quản lý tài sản, nếu họ có lỗi trong việc sử dụng tài sản gây ra thiệt hại thì đó phải hành vi gây thiệt hại chứ không phải là tài sản gây thiệt hại (ví dụ hành vi phóng nhanh vượt ẩu gây ra tai nạn). Tuy nhiên, ngay cả khi chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản không có lỗi trong việc quản lý tài sản tại thời điểm tài sản gây thiệt hại thì việc họ phải chịu trách nhiệm bồi thường vẫn là hợp lý bởi vì bản thân họ là người được quyền khai thác những lợi ích mà tài sản mang lại. Do đó, khi tài sản gây thiệt hại, người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh có thiệt hại và có sự kiện tài sản gây thiệt hại cũng như mối quan hệ nhân quả là có thể được bồi thường.

Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng chung cho cả hành vi gây thiệt hại và tài sản gây thiệt hại. Đây là cơ sở để xác định người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có được loại trừ trách nhiệm hay không. Trách nhiệm chứng minh các căn cứ loại trừ này thuộc về người phải bồi thường thiệt hại.

Trên đây là thông tin của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng cung cấp, để có được câu trả lời cụ thể nhất cho trường hợp của bạn, vui lòng liên hệ 1900636396 cung cấp thêm các thông tin cần thiết để được hỗ trợ trực tiếp.

Trân trọng!

Tải ngay >> Bộ luật Dân sự 2015

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.