Quy định của pháp luật về xác định chứng cứ trong tố tụng dân sự

Khái niệm: Chứng cứ trong vụ án hình sự là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định mà cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

Thuộc tính của chứng cứ:

(i) Tính khách quan của chứng cứ trong tố tụng hình sự:

Chứng cứ được dùng là những tài liệu, sự kiện có thật, phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án đã xảy ra, không bị xuyên tạc, bóp méo theo ý chí chủ quan của con người.Tính khách quan đòi hỏi bản thân các nguồn thông tin này phải có thật, không phụ thuộc vào khả năng con người có nhận biết chúng hay không.Tính khách quan còn thể hiện ở chỗ những gì là suy đoán, tưởng tượng, không có thật thì không phải là chứng cứ. Tính khách quan bắt đầu từ thời điểm chứng cứ được sinh ra.

(ii) Tính liên quan của chứng cứ trong tố tụng hình sự:

Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách quan cơ bản của chứng cứ với sự kiện cần chứng minh.Những gì có thật phải có mối liên hệ khách quan với những sự kiện cần phải chứng minh trong vụ án hình sự.Chứng cứ phải là cơ sở để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự, có mối quan hệ nội tại với những tình tiết, nội dung của vụ án. Nếu những gì tồn tại khách quan nhưng không liên quan đến vụ án thì không phải là chứng cứ.

(iii) Tính hợp pháp của chứng cứ trong tố tụng hình sự:

Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ phải được rút ra từ những phương tiện chứng minh và được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tính hợp pháp được xác định nhằm đảm bảo giá trị chứng minh của chứng cứ.

Những gì được coi là chứng cứ trong vụ án hình sự phải thỏa mãn đầy đủ ba thuộc tính trên. Nếu xét mối quan hệ nội tại giữa các thuộc tính của chứng cứ thì tính khách quan và tính liên quan là nội dung của chứng cứ còn tính hợp pháp là hình thức của chứng cứ.

Để chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng đắn, chính xác thì những người tham gia tố tụng sẽ phải đưa ra chứng cứ. Tuy nhiên không phải bất cứ tài liệu nào đưa ra cũng được coi là chứng cứ. Nhiều người nghĩ rằng có được ảnh chụp hay đoạn ghi âm là đã có đủ bằng chứng để kiện một người. Tuy nhiên, trên thực tế, với sự hiện đại và tinh vi của khoa học công nghệ thì người ta hoàn toàn có thể chỉnh sửa ảnh, chèn thêm đoạn ghi âm,… để làm thay đổi nội dung những tài liệu đó. Do đó, cần có hoạt động xác minh chứng cứ và pháp luật về tố tụng cũng có quy định về vấn đề này chi tiết tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Cụ thể:

  1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
  2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
  3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
  4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
  5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
  6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.

Trong một vụ án, chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng. Việc đưa được đầy đủ những chứng cứ cần thiết, độ chính xác và tin cậy cao thì khả năng “thắng” sẽ cao hơn, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Bên cạnh đó, việc căn cứ vào những chứng cứ xác đáng cũng giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác minh đúng người đúng tội, đảm bảo sự công bằng của pháp luật.

Việc hiểu rõ tài liệu, vật chứng thế nào mới được coi là chứng cứ trong tố tụng sẽ giúp người có quyền và lợi ích liên quan có biện pháp để bảo vệ và kịp thời giao nộp cho cơ quan chức năng giúp cho hoạt tố tụng không bị kéo dài hoặc đi vào “bế tắc” do không có đủ chứng cứ chứng minh.

Trên đây là thông tin của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng cung cấp, hy vọng sẽ giúp bạn có thêm thông tin về chứng cứ trong quá trình tố tụng để có được câu trả lời cụ thể nhất cho trường hợp của bạn, vui lòng liên hệ 1900636396 cung cấp thêm các thông tin cần thiết để được hỗ trợ trực tiếp.

Tải ngay >> Bộ luật Tố Tụng Hình Sự 2015

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.