Tội đánh bạc Online

Gửi Luật sư, tôi có người con trai đang bị cơ quan điều tra bắt tạm giam vì tội đánh bạc công nghệ cao giống trường hợp vụ Rikvip trên mạng. Cháu bị kết luận điều tra là đánh bạc với số tiền là 35 triệu. Vậy xin hỏi luật sư là có phương án nào giảm nhẹ hình phạt cho cháu không? Cháu chưa có tiền án tiền sự gì, tôi là thương binh được tặng huân chương chiến đấu hạng III, như vậy cháu có được hưởng án treo không? Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Đối với câu hỏi của bạn, Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng xin đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

Điều 321 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội đánh bạc:

     “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

     a) Có tính chất chuyên nghiệp;

    b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

    c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

   d) Tái phạm nguy hiểm.”

Theo như các thông tin mà bạn cung cấp, cháu nhà bạn đã có hành vi đánh bạc và sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội với số tiền là 35 triệu đồng. Do đó, cháu có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 321 BLHS 2015 với mức phạt tù từ 03 năm – 07 năm.

Bộ luật Hình sự có quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 BLHS 2015, theo như trường hợp mà bạn cung cấp, cháu có thể được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như:

    “s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải”

     x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.”

Đối với vấn đề quyết định hình phạt khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại Điều 54 BLHS 2015 quy định cụ thể đối với trường hợp có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ như sau:

     “Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

  1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.”

Như vậy, theo quy định trên, nếu có đủ căn cứ chứng minh cháu có 02 tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51 BLHS nêu trên, mặc dù bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Điều 321 BLHS 2015 nhưng cháu vẫn có thể được áp dụng mức hình phạt là quy định tại Khoản 1 là “bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định về điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo như sau:

    “Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

  1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.
  2. Có nhân thân tốt.

    Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

    Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

  1. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

    Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  1. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

    Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

    Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

  1. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”.

Nếu cháu có đủ các yếu tố như bị phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định thì cháu có thể được Tòa án cho hưởng án treo (Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội).

Trên đây là tư vấn của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng, mọi thắc mắc bạn vui lòng liên hệ tổng đài luật sư  1900636396 để được tư vấn trực tiếp.

Tải về: BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017

  Nghị quyết 02-2018/HĐTP hướng dẫn thi hành Điều 65 BLHS về án treo

 

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.