Tội phạm đánh bạc và những vấn đề liên quan- P4

Tiền thu giữ trong vụ án đánh bạc nhưng chứng minh được không dùng để đánh bạc sẽ do cơ quan điều tra xử lý trong giai đoạn điều tra hay do Tòa án xử lý.

Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

Điều 321. Tội đánh bạc

1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Trong một số vụ án đánh bạc, qua điều tra thì có nhiều trường hợp thu giữ trên người bị can một số tiền nhưng có những số tiền bị can khai không dùng để đánh bạc nên những số tiền này được xác định không phải là tiền dùng để đánh bạc. Tuy nhiên, trong nhiều vụ án, thay vì cơ quan điều tra xử lý trả lại cho bị can số tiền này thì cơ quan điều tra chuyển sang Tòa án. Vậy số tiền thu giữ trong giai đoạn điều tra nhưng chứng minh được bị can không dùng để đánh bạc thì Tòa án có được quyền xử lý không.

Ví dụ: Trong vụ án đánh bạc, cơ quan điều tra huyện X thu giữ trên người bị can Nguyễn Văn A số tiền 3.500.000 đồng. Quá trình điều tra, chứng minh số tiền này, bị can A không đùng để đánh bạc là 3.000.000 đồng, còn 500.000 đồng bị can A khai dùng để đánh bạc nhưng chưa dùng hết. Hồ sơ vụ án sau đó, chuyển cho Tòa án huyện X. Trong đó, số tiền 3.000.000 đồng, cơ quan điều tra huyện X không xử lý trả lại cho bị can A. Vậy, khi xét xử, Hội đồng xét xử Tòa án huyện X có được quyền xử lý trả lại số tiền này cho bị can A không?

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Theo Điều 89 BLTTHS năm 2015 thì “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Về thẩm quyền xử lý vật chứng được quy định tại khoản 1 Điều 106 BLTTHS như sau: “Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản”. Như vậy, số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của bị can A không phải là vật chứng trong vụ án nên Hội đồng xét xử Tòa án huyện X không có thẩm quyền xử lý số tiền này.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Mặc dù số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của bị can A không phải là vật chứng trong vụ án nhưng do cơ quan điều tra đã chuyển sang Tòa án nên khi xét xử Hội đồng xét xử phải xem xét xử lý số tiền này mới đảm bảo giải quyết triệt để vụ án.

Như vậy vẫn có rất nhiều những vấn đề đặt ra trong tình huống này cần phải được làm rõ để việc thực thi pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh, hiệu quả trách bỏ lọt tội phạm.

Trên đây là thông tin của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng cung cấp, để có được câu trả lời cụ thể nhất cho trường hợp của bạn, vui lòng liên hệ 1900636396 cung cấp thêm các thông tin cần thiết để được hỗ trợ trực tiếp.

Trân trọng!

Tải ngay >> Bộ luật Hình sự 2015

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.