Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thể hiện bước phát triển quan trọng trong chính sách hình sự của Nhà nước, đánh dấu nhiều điểm tiến bộ thể hiện trong tư duy lập pháp hình sự . Đáng chú ý, một trong những điểm mới đột phá của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đã bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại (PNTM) (các Điều 2, 3, 6, 8, 9, 33, 74-89 và 33 tội danh của Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự).

Như vậy, PNTM chỉ chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm này trong trường hợp được thực hiện nhân danh và vì lợi ích, dưới sự điều hành, chấp thuận của chính PNTM đó. Điều này thể hiện quan điểm hoàn toàn đổi mới của các nhà lập pháp Việt Nam về chủ thể của tội phạm và đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong việc tập trung xử lý những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, tài trợ khủng bố và rửa tiền, đồng thời,tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra , cũng như trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế khi Việt Nam tham gia nhiều Công ước quốc tế về phòng, chống tội phạm như: Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, Công ước chống tham nhũng năm 2003 của Liên Hợp quốc…

Khái niệm, cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với PNTM phạm tội:

Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 quan niệm PNTM là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. PNTM bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt PNTM được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Cùng với đó, Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc PNTM thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Do đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm đang đề cập được định nghĩa như sau: PNTM phạm tội là PNTM thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được Bộ luật Hình sự ghi nhận, bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Trên cơ sở này, khoản 2 Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam, quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự đối với PNTM đã được ghi nhận, đồng thời đây chính là “tuyên bố” mang tính nền tảng, tiền đề để các nhà làm luật quy định những vấn đề khác trong nội dung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhấn mạnh hơn, về vấn đề này, rõ ràng “hành vi, lỗi của người lãnh đạo, chỉ huy, người đại diện cũng được coi là hành vi, lỗi của pháp nhân. Như vậy, lý thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm được các nhà lập pháp Việt Nam quy định là cơ sở quy định trách nhiệm hình sự của PNTM” .

Nguyên tắc xử lý đối với PNTM phạm tội:
Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định năm nguyên tắc xử lý đối với PNTM phạm tội bên cạnh xử lý đối với

người phạm tội như sau:
– Mọi hành vi phạm tội do PNTM thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
– Mọi PNTM phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
– Nghiêm trị PNTM phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
– Khoan hồng đối với PNTM tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

Ngoài ra, cần lưu ý, kể cả PNTM nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên (Điều 6 Bộ luật Hình sự 2015).

Hình phạt và những quy định áp dụng đối với PNTM phạm tội:

Lần đầu tiên trong Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định về hệ thống hình phạt và một chương độc lập – Chương XI “Những quy định đối với PNTM phạm tội” để áp dụng đối với đối tượng là PNTM phạm tội. Về hình phạt, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hai loại là hình phạt chính và hình phạt bổ sung áp dụng đối với PNTM phạm tội như sau:
– Hình phạt chính bao gồm: (1) Phạt tiền; (2) Đình chỉ hoạt động có thời hạn; (3) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (khoản 1 Điều 33).
– Hình phạt bổ sung bao gồm: (1) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; (2) Cấm huy động vốn; (3) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính (khoản 2 Điều 33).

Ngoài ra, Chương XI “Những quy định đối với PNTM phạm tội” đã quy định đầy đủ về điều kiện, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự; nội dung cụ thể về các hình phạt và biện pháp tư pháp cụ thể áp dụng đối với PNTM phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; việc quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn hình phạt và xóa án tích đối với PNTM bị kết án (các điều 74-89). Đây là những căn cứ quan trọng để cùng với đó, tại Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự có quy định 33 tội danh cụ thể mà PNTM phải chịu trách nhiệm hình sự , qua đó, bảo đảm tính hệ thống trong toàn bộ Phần những quy định chung và Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Như vậy, có thể khẳng định, những quy định này không chỉ bảo đảm sự thống nhất chung của hệ thống pháp luật nước ta, mà còn nhằm thực thi các cam kết, nghĩa vụ của nước ta trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, qua đó, bảo đảm công bằng, minh bạch, bình đẳng giữa PNTM Việt Nam ở nước ngoài và PNTM nước ngoài tại nước ta.

Trên đây là thông tin của Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng cung cấp bài viết có tham khảo một số chuyên gia, để có được câu trả lời cụ thể nhất cho trường hợp của bạn, vui lòng liên hệ 1900636396 cung cấp thêm các thông tin cần thiết để được hỗ trợ trực tiếp.

Trân trọng!

Tải ngay >> Bộ luật Hình sự 2015

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.