Xử lý hình sự tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Câu hỏi: Thưa luật sư, vào ngày 5 tháng 7 năm 2018 tôi có cho bạn mình vay số tiền 300 triệu. Ngày 20 tháng 9 năm 2018 bạn tôi đã trả 50 triệu, ngày 5 tháng 3 năm 2019 trả 20 triệu và từ đó đến nay không trả và đã trốn nợ. Ngoài khoản nợ của tôi, anh ta còn nợ rất nhiều những người khác nữa. Khi cho vay và hai lần nhận tiền đều có giấy tờ đầy đủ. Luật sư cho tôi hỏi tôi có thể kiện không và đây là án hình sự hay dân sự, liệu tôi có thể lấy lại tiền của mình không?

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Văn phòng Luật sư Bùi Đình Ứng. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

Trường hợp trên người vay tiền bạn đã có hành vi vay tiền bằng hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản (bỏ trốn). Hành vi trên đã cấu thành tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Bộ luật hình sự 2015. Số tiền người đó còn thiếu bạn là 230 triệu chưa kể lãi và các khoản nợ với những người khác. Như vậy hình phạt với người này sẽ rơi vào khoản 3 điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015:

“3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;”

Ngoài ra, anh ta còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Việc tịch thu tài sản nhằm giải quyết các khoản tiền mà anh này đã chiếm đoạt, trả lại cho những người anh ta đã vay. Tuy nhiên việc bạn có nhận được tiền và nhận được đủ tiền hay không thì không chắc chắn do có thể số tài sản bị tịch thu không đủ chi trả, đã bị tẩu tán và anh này nợ rất nhiều người, thứ tự của anh trong danh sách ưu tiên chi trả các nghĩa vụ tài chính.

Để đảm bảo quyền lợi cho bạn, chúng tôi xin trích thêm quy định của pháp luật về lãi suất vay. Theo điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự 2015:

Điều 466 Nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

“…

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Điều 468 Lãi suất: 

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”

Mọi thông tin cần tư vấn, bạn liên hệ luật sư của chúng tôi để được hỗ trợ nhanh chóng, chính xác nhất.

Hotline: 1900636396

Đặt lịch tư vấn trực tiếp tại văn phòng

Tải ngay>>  Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015

Đăng ký tư vấn miễn phí

Đăng ký tư vấn miễn phí

Điền vào mẫu dưới đây để nhận được tư vấn nội bộ miễn phí và bí mật.